- Bệnh viện đại học Y Dược TP.HCM – Cơ sở 2 là một trong những bệnh viện được nhiều khách hàng (người bệnh) lựa chọn chăm sóc sức khỏe.

Đọc thêm...

Khuyến cáo mới của Cơ quan Quản lý Dược phẩm Pháp (ANSM) ngày 28/6/2019:

Đọc thêm...

A. Khuyến cáo giảm liều dabigatran trong tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc

Khuyến cáo cập nhật hướng dẫn sử dụng mới của Cơ quan An toàn Thuốc và Thiết bị Y tế New Zealand (Medsafe) tháng 6/2019:

Dabigatran là thuốc chống đông được sử dụng rất phổ biến ở New Zealand để điều trị và dự phòng một số bệnh lý liên quan đến huyết khối. Tuy nhiên, Medsafe ghi nhận được các báo cáo về bệnh nhân bị xuất huyết liên quan đến dabigatran.

Qua những báo cáo hiện có, Medsafe nhận thấy liều khuyến cáo của dabigatran (ví dụ như biệt dược Pradaxa) để điều trị hoặc dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc mạch phổi cần được điều chỉnh. Liều khuyến cáo mới thay đổi chủ yếu trên đối tượng người cao tuổi, bệnh nhân có chức năng thận suy giảm ở mức độ trung bình (thanh thải creatinine [CrCl]: 30–50 mL/phút), và những bệnh nhân có khả năng xuất huyết với ít nhất 1 yếu tố nguy cơ.

Chi tiết liều điều chỉnh trên các đối tượng bệnh nhân:

Đối tượng đặc biệt

Liều khuyến cáo mới

Liều khuyến cáo trước đó

Bệnh nhân ≥ 80 tuổi

110mg 2 lần/ngày

150mg 2 lần/ngày

Bệnh nhân từ 75-80 tuổi

110mg 2 lần/ngày hoặc 150mg 2 lần/ngày

150mg 2 lần/ngày

Bệnh nhân suy giảm chức năng thận mức độ trung bình (CrCl 30-50mL/phút)

110mg 2 lần/ngày hoặc 150mg 2 lần/ngày

150mg 2 lần/ngày

Bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết với ít nhất 1 yếu tố nguy cơ

110mg 2 lần/ngày hoặc 150mg 2 lần/ngày

150mg 2 lần/ngày

Ghi chú: Sử dụng liều thấp hơn khuyến cáo cho những bệnh nhân có ít nguy cơ huyết khối và có nguy cơ chảy máu cao.

Medsafe đang làm việc với các đơn vị đăng ký sản phẩm để cập nhật tờ hướng dẫn sử dụng của các chế phẩm có chứa dabigatran. Tờ HDSD cập nhật được Medsafe phê duyệt sẽ được đăng tải lên website trong vài tuần tới.

B. Prescriber Update (New Zealand): Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và nguy cơ tim mạch

Ủy ban Phản ứng có hại của thuốc (New Zealand) (MARC) đã xem xét độ an toàn trên tim mạch của các NSAID tại cuộc họp lần thứ 177 vào ngày 14/3/2019.

NSAID là thuốc kháng viêm bằng cách ức chế tổng hợp cyclo-oxygenase (COX), một loại enzyme quan trọng trong tổng hợp prostaglandin. Có hai dạng chính của enzyme COX: COX-1 và COX-2. Mặc dù COX-1 có mặt trong hầu hết các mô, COX-2 chỉ xuất hiện trong phản ứng viêm. Cả hai dạng này đều xúc tác chuyển đổi acid arachidonic, thành thromboxane A2 (chất kích thích tạo huyết khối) và prostacyclin (chất chống huyết khối).

Các NSAID được chia làm 2 nhóm: NSAID truyền thống không chọn lọc và chất  ức chế chọn lọc COX-2. Những so sánh giữa NSAID truyền thống và chất ức chế chọn lọc COX-2 thường được thự hiện trong các nghiên cứu lâm sàng, tuy nhiên, có nhiều sự chồng chéo giữa hai nhóm về mức độ ức chế COX-2. VD: Trong các NSAID truyền thống, indomethacin và naproxen tương đối chọn lọc trên COX-1, trong khi diclofenac và meloxicam tương đối chọn lọc trên COX-2. Ngoài ra, celecoxib (thuốc ức chế chọn lọc COX-2) và diclofenac (một NSAID truyền thống) có mức độ chọn lọc trên COX-2 tương đương nhau.

Mức độ ức chế COX-1 và COX-2 có thể thay đổi trong khoảng thời gian dùng thuốc, tùy thuộc vào hiệu lực và thời gian bán hủy trong huyết tương của NSAID. Đối với diclofenac, mức độ ức chế COX-1 giảm xuống khi nồng độ thuốc trong huyết tương giảm còn mức độ ức chế COX-2 thì không tăng lên. Ngược lại, đối với ibuprofen và naproxen, mức độ ức chế COX-1 luôn cao hơn nhiều so với mức độ ức chế COX-2 trong suốt thời gian dùng thuốc.

Khi COX-2 bị ức chế nhiều hơn so với COX-1, chất kích thích tạo huyết khối nhiều hơn chất chống huyết khối, do đó làm tăng nguy cơ biến cố bất lợi do huyết khối tim mạch. Sự chọn lọc COX tương đối cũng ảnh hưởng đến phản ứng có hại trên đường tiêu hóa của NSAID.

Từ khi MARC thảo luận về độ an toàn trên tim mạch của diclofenac (2013) và ibuprofen (2015), một số nghiên cứu mới về độ an toàn trên tim mạch của NSAID đã được công bố. Những nghiên cứu này bao gồm hai thử nghiệm lâm sàng và hai nghiên cứu quan sát lớn sử dụng dữ liệu chăm sóc sức khỏe quốc gia. Ngoài ra, đã có hai nghiên cứu phân tích tổng hợp dựa trên các nghiên cứu cũ và một nghiên cứu đối chứng thuộc một nghiên cứu đoàn hệ từ dữ liệu điện tử của hệ thống chăm sóc sức khỏe tại châu Âu nhằm kiểm tra nguy cơ nhập viện do suy tim trầm trọng ở những người mới sử dụng NSAID. MARC đã xem xét các nghiên cứu này và kết luận rằng hiện tại không thể phân biệt các NSAID dựa trên các hồ sơ nguy cơ tim mạch của mỗi thuốc. Tất cả các NSAID đều làm tăng nguy cơ tim mạch, dù sử dụng ngắn hạn hay dài hạn.

Ngoài nguy cơ gây huyết khối, những cơ chế khác góp phần gây độc tính trên tim mạch của NSAID bao gồm tăng huyết áp, giảm tưới máu thận, tăng giữ nước và làm trầm trọng suy tim.

Khuyến cáo:

- Tránh sử dụng NSAID cho bệnh nhân ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch và những người có yếu tố nguy cơ tim mạch.

-Trường hợp cần thiết phải sử dụng, cần sử dụng ở liều điều trị thấp nhất trong thời gian ngắn nhất có thể.

-Thông báo cho bệnh nhân, kể cả những bệnh nhân không có tiền sử tim mạch về nguy cơ tim mạch của NSAID và những triệu chứng, dấu hiệu cần chú ý..

Tắm trẻ sơ sinh đặc biệt đòi hỏi phải thật cẩn thận vì Bé dể bị nhiễm trùng rốn và nước rơi vào tai,mắt,...Các Bác sĩ Khoa Phụ Sản Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Cơ sở 2 sẽ tư vấn và hướng đẫn chi tiết để tắm trẻ đúng cách vào lúc 9 giờ 00 , Thứ Năm 4/7/2019. tại Phòng hội thảo 1, lầu 2, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 ( 201 Nguyễn Chí Thanh. Q.5). Tham dự chương trình miễn phí ! Trân trọng

5C : Chủ động - Cười - Chào - Chăm sóc - Cảm ơn

Đọc thêm...

Khuyến cáo mới của Cơ quản quản lý Y tế Canada (Health Canada) ngày 20/6/2019 :

Đọc thêm...